Các vi phạm của doanh nghiệp liên quan đến môi trường biển (Phần 2)

Ba là, đặc điểm về các ngành, lĩnh vực

– Lĩnh vực khai thác khoáng sản biển, ven biển.

Tình hình tội phạm và VPPL về môi trường xảy ra trong các hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản trong phạm vi đới ven biển, môi trường biển diễn ra với tính chất, mức độ, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các loại khoáng sản xảy ra vi phạm phổ biến như: Khoáng sản là vật liệu xây dựng (cát, đá, sỏi tại các cửa sông, đới ven biển); khai thác titan; khai thác than. Đặc biệt, tình trạng khai thác than trái phép, khai thác chưa tuân thủ các quy định về BVMT, xả nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại (dầu mỡ thải) vào môi trường biển.

– Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch biển.

Tình hình tội phạm và VPPL về môi trường biển trong lĩnh vực này xảy ra với một số hành vi chủ yếu như: Xả thải nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường; không có giấy phép về bảo vệ môi trường, giấy phép xả thải. Các hoạt động xảy ra vi phạm phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch biển chủ yếu là kinh doanh dịch vụ ăn uống tại các bãi biển, hoạt động của các tàu du lịch biển. Hiện nay nhiều khu du lịch, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, khách sạn có quy mô lớn thải lượng nước thải và chất thải vào môi trường nhưng không xử lý đúng quy định, đặc biệt là các khu du lịch, khu vui chơi giải trí- nghỉ dưỡng tổng hợp (sân golf, resort…), các khách sạn có tiêu chuẩn từ 3 sao hoặc có quy mô từ 100 phòng trở lên. Các hành vi vi phạm phổ biến như: Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ những nội dung cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt, xác nhận; không xử lý nước thải; chất thải không được thu gom, phân loại…

– Lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản, hải sản.

Hiện nay, cả nước có khoảng 128.000 tàu đánh bắt hải sản mỗi năm đánh bắt khoảng 2 triệu tấn hải sản. Trong lĩnh vực này, tình trạng vi phạm phổ biến xảy ra chủ yếu là các hành vi: Khai thác trái phép, khai thác sử dụng hóa chất, phương tiện công cụ thuộc danh mục cấm; các hành vi phá rừng, hủy hoại rừng ngập mặn ven biển để nuôi trồng hải sản, nuôi trồng không theo quy hoạch; các hành vi vi phạm về xả thải không qua xử lý, xả thải trái phép chất thải rắn, nước thải từ nuôi trồng hải sản, chế biến thủy – hải sản ven biển, trên biển; không có báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường…Tình hình vi phạm trên, gia tăng không ngừng về số vụ và tính chất, mức độ nghiêm trọng và có có xu hướng tăng đều theo các năm, năm sau cao hơn năm trước.

– Lĩnh vực công nghiệp ven biển trong đó trọng tâm là luyện kim, hóa dầu, đóng mới, sửa chữa tàu biển, công nghiệp phụ trợ đóng tàu.

VPPL về môi trường biển xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp ven biển trong những năm gần đây gia tăng cùng với tốc độ phát triển kinh tế. Đặc biệt, VPPL về môi trường xảy ra phổ biến trong một số hoạt động công nghiệp đặc thù gắn với môi trường biển như: Công nghiệp đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu biển; công nghiệp phụ trợ đóng tàu; công nghiệp chế xuất tại các khu kinh tế ven biển…

– Lĩnh vực dịch vụ cảng biển trong đó trọng tâm là xuất nhập khẩu, quá cảnh chất thải, phế liệu, phương tiện máy móc đã qua sử dụng tại các cảng biển.

Thống kê cho thấy, hiện nay trên địa bàn cả nước có 49 cảng biển với 166 bến cảng. Phát triển dịch vụ cảng biển trong đó trọng tâm là các hoạt động xuất nhập khẩu thông qua cảng biển đã tạo nên hiệu quả kinh tế lớn trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tình hình xuất nhập khẩu thông qua cảng biển, đặc biệt là xuất nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các bến cảng và môi trường biển. Bên cạnh đó, hoạt động của các tàu chuyên chở hàng hóa tại các các biển cũng là một nguồn gây ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn do trao đổi nước dằn tàu và dầu mỡ phát thải vào môi trường nước.

Bên cạnh những lĩnh vực cơ bản trên, tội phạm và VPPL về môi trường biển còn xảy ra trong một số lĩnh vực khác như: Lĩnh vực vận tải biển, lĩnh vực quân sự, an ninh quốc phòng… Các hành vi vi phạm phổ biến trong các lĩnh vực khác chủ yếu là xả thải trái phép gây ô nhiễm môi trường hoặc tiến hành các hoạt động khác có phát sinh chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Nguồn ảnh: BBC

Bốn là, đặc điểm về thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và VPPL về môi trường biển

 –  Lợi dụng các chính sách phát triển kinh tế xã hội như khuyến khích nhập khẩu máy móc, tàu biển, trang thiết bị cũ để thực hiện hành vi vi phạm. Tại các cảng biển, khu công nghiệp biển khu vực phía Bắc và Nam Trung Bộ tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng cơ chế, chính sách thông thoáng tạo điều kiện trong phát triển kinh tế của Nhà nước để nhập khẩu các loại máy móc, phương tiện đã qua sử dụng có lẫn chất thải nguy hại, hóa chất, quá trình sản xuất, phá dỡ lấy nguyên liệu gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường.

– Lợi dụng điều kiện vùng biển rộng, lắp đặt hệ thống xả thải ngầm trái quy định để xả nước thải, đổ các chất thải nguy hại ra môi trường biển.

– Lợi dụng chính sách phát triển cảng biển, luồng, lạch ven biển để khai thác trái phép tài nguyên biển. Hiện nay, cả nước có 49 cảng biển lớn, cơ chế, chính sách phát triển cảng biển đã tạo điều kiện cho tội phạm và VPPL về môi trường, tình trạng chất thải tồn đọng tại các cảng biển gây ô nhiễm môi trường biển diễn ra phổ biến.

– Lợi dụng các quy định về quy hoạch xây dựng, triển khai các công trình xây dựng ven biển để lấn biển trái phép gây hủy hoại môi trường và hệ sinh thái ven bờ. Hiện nay, trên địa bàn các tỉnh ven biển nước ta đang phát triển mạnh các loại hình đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu du lịch… nhằm khai thác lợi thế từ môi trường biển, tài nguyên biển để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này là tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng sự buông lỏng quản lý của một bộ phận cán bộ phụ trách để tiến hành xây dựng, lấn biển sai với thiết kế, trái với quy định của Luật Xây dựng và quy định về Bảo vệ môi trường trong xây dựng.

– Lợi dụng các quy định về an toàn hàng hải để xả nước thải, nước dằn tàu trái phép gây ô nhiễm môi trường. Theo quy định của Luật Tài nguyên và mô i trường biển, đảo cũng như công ước MARPOL mà Việt Nam là thành viên thì tàu biển không được phép thải nước thải trong phạm vi 4 hải lý tính từ bờ gần nhất, trừ khi được trang bị thiết bị xử lý nước thải phù hợp. Trong phạm vi 4 đến 12 hải lý tính từ bờ gần nhất, nước thải phải được nghiền và khử trùng trước khi thải. Tuy nhiên thực tế các tàu vận tải biển thường lợi dụng quy định về an toàn hàng hải nên chỉ xả thải nước dằn tàu khi đã cập cảng bốc xếp hàng hóa.

– Lợi dụng phát triển nuôi trồng hải sản, thủy sản tại các khu vực ven biển để khai thác, hợp thức hóa lâm sản, khoáng sản khai thác trái phép. Tình trạng này cũng xảy ra tương tự đối với tài nguyên khoáng sản ven biển. Địa bàn thường xảy ra tình trạng trên chủ yếu thuộc khu vực Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long.

Bên cạnh những thủ đoạn trên, tội phạm và VPPL về môi trường biển còn lợi dụng sơ hở thiếu sót trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng, cấu kết móc nối với các cán bộ quản lý để xả thải, khai thác trái phép tài nguyên biển gây ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hệ sinh thái biển.

Trên đây là một số đặc điểm, đặc trưng cơ bản của tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường biển. Lực lượng Cảnh sát môi trường cần nắm rõ các đặc điểm này để chủ động và phối hợp với các lượng chức năng khác làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường biển trong tình hình hiện nay.

Theo Tạp chí Cảnh sát nhân dân – Csnd.vn